Truy cập

Hôm nay:
27
Hôm qua:
263
Tuần này:
290
Tháng này:
1903
Tất cả:
218017

Ý kiến thăm dò

Phương án sản xuất vụ Xuân 2023-2024

Ngày 06/12/2023 05:38:00

Xã Thăng Long có phương án sản xuất vụ Xuân 2023-2024

UỶ BAN NHÂN DÂN

XÃ THĂNG LONG

Số: /PA - UBND

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Thăng Long, ngày 28 tháng 11 năm 2023

PHƯƠNG ÁN

Sản xuất trồng trọt vụ Xuân năm 2024


Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SẢN XUẤT VỤ XUÂN NĂM 2023

Sản xuất trồng trọt trong năm 2023 được thực hiện trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng phát triển, các chủ trương, chính sách của tỉnh, huyện về nông nghiệp, nông thôn, nông dân được ban hành và hỗ trợ kịp thời hiệu quả; sự nỗ lực cố gắng của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và người sản xuất; đặc biệt là giá nông sản như lúa gạo tăng tạo động lực cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên bên cạnh đó sản xuất trồng trọt vẫn gặp không ít những khó khăn, thách thức như: lượng mưa ít, phân bố không đều, nắng nóng kéo dài nhất là cuối vụ Xuân đầu vụ Mùa, vừa thiếu nước, vừa thiếu điện phục vụ sản xuất, giá vật tư đầu vào vẫn ở mức cao…Song dưới sự chỉ đạo tập trung của Đảng ủy, HĐND, UBND xã, sự phối hợp tích cực của các cấp, các ngành, sự tin tưởng, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, nên sản xuất nông nghiệp đã đạt được kết quả khá toàn diện, góp phần vào tăng trưởng, phát triển kinh tế chung trên địa bàn xã.

I. Kết quả đạt được

1. Kết quả về diện tích, năng suất và sản lượng cây trồng

Giá trị sản xuất ngành trồng trọt ước đạt 146,9 tỷ đồng; Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 9.428 tấn, bằng 94,8% so với cùng kỳ, đạt 100 % so với kế hoạch năm; Bình quân lương thực đầu người 712kg/người/năm.Tổng diện tích gieo trồng trong năm là: 2.345 ha, hệ số sử dụng đất: 2,41 lần. Cụ thể: Cây lúa: diện tích 1.504 ha, năng suất bình quân 60 tạ/ha, sản lượng bình quân 9.024 tấn; Cây Ngô diện tích: 101,95 ha, năng suất 41 tạ/ha, sản lượng 404 tấn; Cây khoai lang: diện tích 63 ha, năng suất 107 tạ/ha, sản lượng 674 tấn; Cây khoai tây: diện tích 12 ha, năng suất 211 tạ/ha, sản lượng 253 tấn; Cây lạc: diện tích 89 ha, năng suất 24 tạ/ha, sản lượng 213,6 tấn; Rau màu các loại và cây khác 485 ha giá trị thu nhập khá.

Chỉ đạo mô hình ứng dụng công nghệ cao sản xuất rau, củ, quả trong nhà màng với quy mô 1000m2 tại hộ gia đình ông Lê Quang Toan thôn Ốc Thôn với tổng giá trị trên 1,5 tỷ đồng.

2. Công tác chỉ đạo thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thời vụ

Các giống chủ lực, giống chất lượng cao, giống cây trồng có lợi thế được khuyến cáo đưa vào gieo trồng đều được khảo nghiệm sản xuất để bố trí theo chân đất phù hợp; chất lượng giống đảm bảo và gắn với thị trường tiêu thụ, nhất là các cây trồng thuộc nhóm rau, hoa, dưa chuột, bí xanh, khoai tây. Đối với cây lúa cơ cấu 100% là trà xuân muộn, lúa thuần, lúa chất lượng cao chiếm trên 50% do đó đã làm tăng giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích.

Tiếp tục thực hiện tốt việc chuyển đổi cơ cấu giống, chuyển dịch cơ cấu mùa vụ trong sản xuất lúa, diện tích lúa chất lượng tăng cao so với cùng kỳ. Mỗi thôn chỉ đưa vào cơ cấu 2 - 3 loại giống, toàn xã cơ cấu 100% trà xuân muộn, bằng các loại giống lúa lai và lúa thuần có tiềm năng năng suất, chất lượng và có thời gian sinh trưởng ngắn, vì vậy cơ bản né tránh được thời tiết bất lợi và thiệt hại khi có các đối tượng sâu bệnh gây ra.

Công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền của Ban nông nghiệp và Ban giám đốc HTX tại các thời điểm đều được cụ thể hóa bằng các giải pháp hiệu quả. Hướng dẫn nhân dân các biện pháp chăm sóc, sử dụng phân bón. Dự tính, dự báo tình hình sâu bệnh, biện pháp sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh hiệu quả, được nhân dân áp dụng kịp thời, hạn chế thiệt hại do sâu bệnh gây ra.

3. Liên kết giữa doanh nghiệp, HTX và nông dân sản xuất theo chuỗi liên kết giá trị và bao tiêu sản phẩm.

Công tác liên kết sản xuất tiếp tục được quan tâm: vụ xuân và vụ Thu mùa năm 2023, HTX DVNN Thăng Long đã ký kết với các Công ty giống cây trồng Quảng Bình, Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Cúc Phương, HTX dịch vụ và sản xuất miến gạo Thăng Long, Công ty cổ phần và thực phẩm Đức Lộc… Tổ chức thực hiện liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm các loại giống lúa nếp Hương, Thiên ưu 8, SV181, …Bên cạnh đó thực hiện các mô hình giống lúa: Hương Thanh 8, Thiên Ưu 8… Với diện tích trên 5ha. Dịch vụ liên kết, bao tiêu sản phẩm và các mô hình trình diễn đã góp phần mang lại hiệu quả cao về giá trị thu nhập trên cùng một đơn vị diện tích, giảm chi phí nhân công lao động cho hộ sản xuất, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trên địa bàn xã.

4. Cơ giới hóa và các tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Việc áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất lúa tiếp tục được đẩy mạnh, khâu làm đất đạt 100% diện tích, thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp đạt trên 99% diện tích, giúp nhân dân đẩy nhanh tiến độ thu hoạch, tạo quỹ thời gian để bố trí gieo trồng những vụ tiếp theo chủ động và kịp thời vụ. Công tác dự tính dự báo hướng dẫn hộ nông dân phòng trừ đạt hiệu quả cao, lượng thuốc BVTV sử dụng ít, giảm chi phí góp phần bảo vệ môi trường. Nhiều giống cây trồng mới được gieo trồng thử nghiệm làm cơ sở để mở rộng sản xuất đại trà như giống lúa VNR 20; lúa JA2 ...

5. Các chính sách hỗ trợ sản xuất của Trung ương, của tỉnh và của huyện tiếp tục được triển khai tạo động lực hỗ trợ sản xuất phát triển.

Cùng với các cơ chế chính sách của Trung ương, tỉnh và huyện tiếp tục triển khai thực hiện, năm 2022 tỉnh đã ban hành thêm các cơ chế chính sách hỗ trợ sản xuất như hỗ trợ phát triển mô hình cây ăn quả chất lượng cao ở Thôn Mỹ Quang, hỗ trợ tích tụ, tập trung đất đai ở Ốc Thôn, đã tạo động lực góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất trên địa bàn xã đúng định hướng, mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng nông sản, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, huy động, khuyến khích các cá nhân, doanh nghiệp tham gia đầu tư vào nông nghiệp nông thôn.

II. HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Hạn chế, yếu kém

Bên cạnh những kết quả đạt được, sản xuất ngành trồng trọt năm 2023 vẫn còn những hạn chế, yếu kém do:

Một số thôn vẫn chưa cương quyết trong chỉ đạo thời vụ, vẫn để xảy ra tình trạng gieo cấy lúa sớm hơn thời vụ (Ốc Thôn, Ngọc Chẩm) công tác phòng trừ các đối tượng dịch hại tại một số thôn chưa tổ chức đồng bộ nên hiệu quả thấp.

- Hiệu quả sản xuất, lợi nhuận từ trồng trọt còn thấp, trong khi đó ngành trồng trọt gặp nhiều rủi ro do yếu tố thời tiết, sâu bệnh gây ra. Giá trị sản xuất một số loại giống cây trồng đạt thấp, thị trường một số nông sản không ổn định.

Xây dựng và phát triển các chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ còn ít, chưa tạo được nhiều chuỗi giá trị trong sản xuất, bao tiêu sản phẩm cho nông dân, số doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp vẫn còn hạn chế.

2. Nguyên nhân

a) Nguyên nhân khách quan

- Điều kiệnthời tiết, khí hậu,khó lường đã ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng trong sản xuất.

- Sản xuất trồng trọt vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình chiếm tỷ lệ lớn và thiếu sự liên kết đồng bộ theo vùng, liên vùng. Công tác tích tụ ruộng đất và chuyển đổi những diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang cây trồng khác chưa được quan tâm; hạ tầng phục vụ sản xuất nhiều nơi vẫn chưa được đầu tư đồng bộ.

b) Nguyên nhân chủ quan

- Công tác chỉ đạo, điều hành ở một số thời điểm còn chưa tốt, còn chậm so với tình hình thực tế.

Bên cạnh những kết quả đạt được, sản xuất vụ xuân năm 2023 vẫn còn một số khó khăn, hạn chế, yếu kém đó là:

Công tác chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả và các loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp sang sản xuất các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao chưa thật sự bền vững, nhân dân ở một số thôn chưa thực hiện đúng hướng dẫn lịch thời vụ còn gieo cấy sớm vụ chiêm xuân, giao cấy muộn ở vụ mùa.

Một số thời điểm trọng tâm cần tập trung xử lý các đối tượng sâu bệnh để bảo vệ cây trồng được Ban nông nghiệp khuyến cáo, nhưng nhiều hộ nông dân còn chưa quan tâm, để sâu bệnh gây hại. Hệ thống kênh tưới, kênh tiêu, kênh chân rết của các thôn xuống cấp, làm ảnh hưởng đến công tác điều hành nước tưới dẫn đến trong vụ nhiều diện tích còn bị hạn cục bộ.

Phần thứ hai

MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP SẢN XUẤT VỤ XUÂN 2024

I. Dự báo một số yếu tố tác động đến sản xuất

1. Tình hình thời tiết khí hậu, thủy văn

Theo nhận định của Trung tâm dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia trong những tháng cuối năm 2023 đến tháng 3/2024 hiện tượng El Nino( pha nóng) vẫn tiếp tục duy trì với xác suất khoảng 85-95%, cường độ có xu hướng giảm dần.

Nhiệt độ và không khí lạnh: Tháng 12/2023 phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm( TBNN) khoảng 0,50C- 1,50C; Thời kỳ đầu mùa đông 2023- 2024 không khí lạnh có khả năng hoạt động yếu và rét đậm, rét hại có khả năng hoạt động muộn, Tháng 01-03/2024 số ngày rét đậm, rét hại có khả năng ít hơn trung bình nhiều năm. Các đợt rét đậm, rét hại có xu hướng không kéo dài.

Lượng mưa, dòng chảy: Tổng lượng mưa khu vực Bắc Trung Bộ trong tháng 12/2023 phổ biến cao hơn từ 20-40% so với TBNN cùng thời kỳ. Tháng 01-02/2024 tổng lượng mưa tại khu vực Bắc Trung Bộ phổ biến cao hơn so với TBNN khoảng từ 5-10mm. Tháng 3/2024 tổng lượng mưa thấp hơn từ 5-10mm só với TBNN cùng thời kỳ.

Như vậy mùa đông 2023-2024 không khí lạnh có khả năng hoạt động yếu, rét đậm, rét hại có khả năng hoạt động muộn hơn TBNN, nhiệt độ cao hơn TBNN từ 0,50C- 1,50C, nguồn nước phục vụ sản xuất cơ bản đầy đủ.

2. Nhận định thuận lợi, khó khăn.

* Thuận lợi

Sản xuất trồng trọt tiếp tục nhận được sự quan tâm của cấp ủy Đảng, Chính quyền các cấp, nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất tiếp tục được ban hành, tạo động lực cho phát triển.

Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, đặc biệt là ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất, hạ tầng sản xuất tiếp tục được hoàn thiện giúp cho sản xuất đạt hiệu quả cao hơn. Công tác quản lý giống, phân bón, thuốc BVTV và đảm bảo an toàn thực phẩm của các cấp, các ngành ngày càng đi vào nề nếp.

Tín hiệu thị trường nông sản trên thế giới và VIệt Nam có xu hướng tăng nhu cầu về số lượng, chủng loại và giá nông sản, tạo cơ hội cho sản xuất phát triển nhất là sản xuất hàng hóa quy mô lớn, chất lượng cao.

* Khó khăn

Tình hình an ninh chính trị thế giới diễn biến khó lường; Thị trường giao động khó dự báo. Thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu, sâu bệnh phát sinh gây hại trái quy luật là nguy cơ gây thiệt hại lớn cho sản xuất trồng trọt.

Diện tích nhỏ lẻ, thiếu lao động có chuyên môn cao vẫn là những yếu tố gây khó khăn cho sản xuất trồng trọt.

Giá vật tư đầu vào vẫn còn ở mức cao, liên kết theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ còn ít. Thị trường giống, vật tư nông nghiệp và nông sản biến động bất thường.

II. Mục tiêu sản xuất vụ xuân 2024

Trên cơ sở kế hoạch của huyện, UBND xã giao chỉ tiêu theo điều kiện cụ thể đến từng thôn xây dựng các mục tiêu sản xuất trên cơ sở hoàn thành trên mức kế hoạch huyện giao, giao chỉ tiêu cụ thể từng loại cây trồng đến từng thôn, nhất là chỉ tiêu về diện tích, sản lượng, giá trị và chất lượng, xây dựng và triển khai các giải pháp thực hiện một cách phù hợp, ứng phó hiệu quả với các tình huống bất thường trong sản xuất như thiên tai, dịch bệnh, thị trường... tập trung công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện đảm bảo hoàn thành vượt mức các mục tiêu đề ra.

Tổng diện tích gieo trồng 1.100,3 ha: cây lúa: Diện tích 743 ha. Trong đó tổ chức liên kết sản xuất bao tiêu sản phẩm 100 ha, quy hoạch mô hình trình diễn 6 ha, gồm các giống lúa: như Nếp Hương, J02, Khang Dân 18, LP5, năng suất bình quân 70 tạ/ha, sản lượng 5.265,4 tấn; Cây ngô 60,0 ha, năng suất bình quân 50,0 tạ/ha, sản lượng 125 tấn; Cây khoai lang: Diện tích: 25,0ha, năng suất 90 tạ/ha, sản lượng 270 tấn; Cây lạc gieo trồng 53 ha, Cây Khoai tây: Diện tích: 10,0 ha, năng suất 170 tạ/ha, sản lượng 85 tấn; Cây ớt 13,0 ha; Cây mía diện tích 100 ha, Rau màu các loại 89,3 ha

Tiếp tục chỉ đạo tăng tỷ lệ diện tích gieo cây trà lúa xuân muộn và mùa sớm để hạn chế ảnh hưởng của thời tiết, sâu bệnh và tăng quỹ đất để mở rộng sản xuất vụ đông năm sau. Chuyển đổi một số diện tích đất lúa sản xuất kém hiệu quả, khó khăn về nước tưới sang cây trồng khác có giá trị kinh tế cao.

Đối với rau màu: Tiếp tục duy trì và nhân rộng mô hình trồng rau công nghệ cao, căn cứ thời vụ các loại cây trồng cần tranh thủ thời tiết thuận lợi để gieo trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho các loại cây trồng, chủ động mời gọi các công ty, doanh nghiệp để tổ chức liên kết sản xuất bao tiêu sản phẩm cho các loại cây trồng.

Đối với cây ăn quả: Tập trung cải tạo chuyển đổi diện tích vườn đồi để chuyển sang trồng các loại cây như: Cam, bưởi, ổi, mít... tại các thôn Mỹ Quang, Vạn Thành... tạo tiền đề hình thành vùng chuyên sản xuất cây ăn quả tập trung nâng cao giá trị thu nhập vườn đồi trên đơn vị diện tích.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo điều hành sản xuất kịp thời, hiệu quả

Cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị, Ban nông nghiệp xã, các Cấp ủy, chi bộ Nông nghiệp cần quán triệt về vai trò, ý nghĩa và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả trong công tác chỉ đạo. Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền đến cán bộ Đảng viên và nhân dân. Xác định thực hiện thắng lợi kế hoạch sản xuất ngành trồng trọt năm 2024 là nhiệm vụ trọng tâm trong sản xuất nông nghiệp

Các thôn sớm chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất vụ Chiêm xuân 2024 trên cơ sở phương án sản xuất của UBND xã theo hướng tái cơ cấu ngành trồng trọt, tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng; khuyến khích tích tụ ruộng đất để sản xuất quy mô lớn, phối hợp với HTX đầu tư liên doanh, liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm. Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn nông dân gieo trồng đúng cơ cấu, đúng lịch thời vụ để giảm thiểu rủi ro do thời tiết, dịch bệnh gây ra.

2. Bố trí cơ cấu giống cây trồng và thời vụ hợp lý

Vụ Xuân 2024 tiết “Đại Hàn” vào ngày 21/01/2024 (tức 11/12 Âm lịch), đây là giai đoạn dự báo có tần suất rét đậm cao nhất trong năm; tiết “Lập Xuân” vào ngày 04/02/2024 (tức ngày 25/12 Âm lịch), Cốc vũ vào ngày 20/4/2024 dương lịch (ngày 12/3 âm lịch). Theo Trung tâm dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, vụ Xuân năm 2024 dự kiến sẽ là vụ sản xuất có nền nhiệt độ trung bình cao hơn TBNN từ 0,50C-1,50C và ẩm hơn TBNN cùng thời kỳ.

Quan điểm bố trí thời vụ và cơ cấu lúa là: Tập trung 100% sản xuất vụ xuân muộn, ưu tiên sử dụng giống ngắn ngày chất lượng cao, giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt, gạo ngon, hạt dài.

Lấy mốc thời điểm cây trồng trỗ bông từ 25/4-05/5/2024 (trong đó lúa trỗ tập trung từ 25/4 đến 30/4), để làm căn cứ tính thời điểm gieo mạ phù hợp cho từng giống và từng trà lúa của địa phương. Bố trí gọn từng trà mỗi cánh đồng chỉ sử dụng từ 2-3 loại giống, gieo tập trung trong khoảng 2 - 3 ngày.

Trên cơ sở đó, UBND xã khuyến cáo cơ cấu trà, chân đất và bộ giống phục vụ sản xuất như sau:

* Cây Lúa:

+ Đối với diện tích đất thường xuyên bị ngập lụt trong vụ thu mùa hàng năm, đất làm vụ đông tại các thôn trên địa bàn xã. Trong vụ xuân phải bố trí gieo cấy giống lúa có thời gian sinh trưởng < 125 ngày như: TBR 97, Thiên ưu 8, KD, Bắc thơm 7- gieo mạ từ 10 - 15/01/2024 để có thời gian và quỹ đất sản xuất vụ Thu mùa 2024 sớm tránh mưa lũ cuối vụ.

+ Trên chân đất sâu trũng, Lựa chọn các giống: Thái xuyên 111, Hương ưu 98, Phú ưu 978, VT 404, Phúc Thái 168…Gieo mạ từ 10 - 15/01/2024

+ Trên chân đất vàn và vàn thấp, lựa chọn các giống: Hương Bình, N97, N98, TBR97, KD đột biến, KD 18, ĐT 80, Thiên ưu 8 cácgiống Lúa nếp thơm chất lượng cao…gieo mạ từ 15 - 20/01/2024

Ngoài các giống chủ lực,các Hợp tác xãDVNN phối hợp với các doanh nghiệp tiếp tục xây dựng mô hình khảo nghiệm, sản xuất thử các giống lúa có triển vọng để đánh giá làm cơ sở mở rộng sản xuất cho các vụ tiếp theo: Thụy hương 308, HG 12, TBR1, TBR87, ADI 68, Hana 7, SV181...

* Cây ngô:Lựa chọn các giống có năng suất, chấtlượng cao, kháng sâu bệnh, chịu lạnh, chịu hạn. Sử dụng các loại giống như: VS36,CP111, PSC747, PSC02, LVN10,... thời vụ trồng 05 - 15/02.

* Cây lạc:Các giống chủ yếu là L14, L18 L23, L26,TB25.Thời vụ gieo từ 01 - 10/2, thu hoạch trước 10/6, cần bố trí trên chân đất có thành phân cơ giới nhẹ (chuyên màu). Đơn vị Mỹ Quang và Vạn Thành có diện tích trồng mía cần chỉ đạo cho nông dân trồng xen để tăng thu nhập và cải tạo đất.

* Khoai lang:Bố trí ở những diện tích trồng cây kháccho năng suất thấp. Cần chỉ đạo trồng tăng diện tích khoai lang tím Nhật Bản,Hoàng Long để tăng sản lượng và giá trị sản xuất.

* Rau màu: Khuyến khích các hộ nông dân trồng các loại rau có giá trị kinhtế cao như: su hào, bắp cải, ớt xuất khẩu, bí xanh, cà chua đáp ứng đủ nhu cầu tiêudùng tại chỗ. Đặc biệt tăng diện tích trồng rau an toàn ở hộ anh lê Quang Toan Ốc Thôn và các hộ ở Ngư Thôn Đại Bản, tiếp tục chỉ đạo phát triển vùng rau an toàn theo chính sách của tỉnh.

(Cơ cấu và thời vụ các giống cây trồng chủ lực có lịch gieo trồng kèm theo)

3. Tập trung thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật thâm canh, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất.

Sử dụng giống đúng tiêu chuẩn, chất lượng; che phủ ni lông 100% diện tích mạ để phòng chống rét, tăng cường sử dụng mạ khay, máy cấy và ứng dụng cơ giới hoá các khâu trong sản xuất;

Tăng cường cày ải trên diện tích không làm vụ đông, khuyến cáo tập trung sử dụng phân bón hữu cơ, xây dựng phương án điều tiết nước, quản lý, chỉ đạo thời vụ bằng thuỷ lợi.

Tập trung chỉ đạo và tổ chức xây dựng, thiết lập, cấp và quản lý mã số các vùng trồng (các sản phẩm nội địa và sản phẩm nông sản để xuất khẩu), từng bước ứng dụng công nghệ số vào sản xuất

Tiếp tục xây dựng mô hình và mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như sản xuất rau an toàn, cây ăn quả, hoa cây cảnh, sản xuất hữu cơ (Lúa – cá, lúa – rươi, rau củ quả trong nhà màng, nhà kính...) để nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất.

Xây dựng thương hiệu các sản phẩm trồng trọt gắn với tìm kiếm, phát triển thị trường tiêu thụ, nhất là những sản phẩm có thế mạnh của địa phương, tăng cường khai thác ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường.

Tiếp tục phối hợp với các doanh nghiệp xây dựng mô hình khảo nghiệm, sản xuất thử các giống cây trồng, biện pháp kỹ thuật canh tác mới để đánh giá làm cơ sở để mở rộng sản xuất cho các vụ tiếp theo.

4. Phòng trừ tốt các đối tượng sâu bệnh gây hại cây trồng

Vụ Xuân là vụ có nhiều đối tượng sâu bệnh phát sinh và gây hại. Việc phòng trừ sâu bệnh trước hết phải làm tốt công tác dự tính dự báo, phát hiện sớm và khoanh vùng phòng trừ kịp thời, không để lây lan thành dịch, UBND xã giao HTX VDNN theo dõi, dự tính, dự báo các đối tượng sâu bệnh và hướng dẫn các biện pháp phòng trừ cụ thể tránh để lan ra diện rộng.

5. Tổ chức tốt việc cung ứng, dịch vụ phục vụ sản xuất

Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp phối hợp chặt chẽ với các thôn và các hộ kinh doanh vật tư nông nghiệp có kế hoạch cung ứng đủ giống, vật tư, phân bón cho nông dân đảm bảo chất lượng, đủ số lượng, đúng chủng loại, kịp thời vụ, giá cả hợp lý và tạo điều kiện cho nông dân sản xuất đạt hiệu quả cao.

HTX DVNN thường xuyên phối hợp với công ty TNHH MTV Sông chu chi nhánh Nông Cống kiểm tra, phát hiện hư hỏng. Tập trung khẩn trương sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi bị hư hỏng do mưa lũ gây ra, đặc biệt là các hồ chứa để đáp ứng kịp thời cho sản xuất; trước mắt, phối hợp với các địa phương thực hiện tốt công tác ra quân làm thủy lợi mùa khô; nạo vét kênh mương nhằm phát huy tốt năng lực tưới của các công trình. Xây dựng và triển khai thực hiện phương án tưới, tiêu phù hợp, hiệu quả và ứng phó với biến đổi khí hậu.

6. Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với sản xuất

Tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trong kinh doanh, buôn bán giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật trong kinh doanh, buôn bán giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.

Giám sát chặt chẽ nội dung quảng bá, quảng cáo, tập huấn kỹ thuật về phân bón, thuốc BVTV đối với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn xã.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Ban chỉ đạo sản xuất

Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các thôn xây dựng, triển khai Phương án sản xuất trồng trọt vụ Xuân năm 2024; theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, dịch bệnh; Chỉ đạo thực hiện và phát triển các mô hình mới trong sản xuất để làm cơ sở nhân ra diện rộng cho các vụ sau. Tham mưu đề xuất các cơ chế chính sách hỗ trợ sản xuất năm 2024 báo cáo UBND xã xem xét, quyết định.

Thành lập Ban chỉ đạo sản xuất do đ/c Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban, đ/c Phó Chủ tịch làm phó ban trực, đ/c Giám đốc HTX phó ban; Cán bộ công chức UBND xã, mời Ban chấp hành đảng ủy và các ngành đoàn thể cùng tham gia.

Ban Nông nghiệp xây dựng và triển khai kế hoạch sản xuất trồng trọt vụ Xuân, phù hợp với điều kiện của địa phương; tuyên truyền, phổ biến đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong đó quan tâm đến công tác quy hoạch, cơ cấu các loại giống trên từng xứ đồng, đảm bảo mỗi xứ đồng chỉ gieo cấy từ 2 – 3 loại giống tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chỉ đạo thời vụ, chăm sóc và thu hoạch, theo dõi và chỉ đạo chặt chẽ tình hình sử dụng cơ cấu giống và lịch thời vụ. Khuyến cáo và vận động các hộ kinh doanh giống và vật tư nông nghiệp trên địa bàn thực hiện tốt cơ cấu sản xuất năm 2024.

2. Hợp tác xã

* Hợp tác xã Nông nghiệp

Thực hiện tốt công tác hướng dẫn cơ cấu giống, thời vụ, kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh; theo dõi các mô hình liên kết. Lựa chọn và thực hiện có hiệu quả công tác trình diễn, khuyến khích các loại giống mới, các mô hình mới chủ động đề đề xuất đánh giá các mô hình làm cơ sở trong việc tham mưu cơ cấu giống trong những năm tiếp theo.

Xây dựng kế hoach tập huấn chuyển giao tiến bộ KHKT. chỉ đạo thực hiện phương án phòng trừ sâu bệnh vụ xuân; thực hiện tốt công tác dự tính, dự báo thời điểm các loại sâu bệnh phát sinh, hướng dẫn xử lý thuốc kịp thời, hiệu quả và an toàn; khảo nghiệm và lựa chọn bộ thuốc đặc trị đối với từng loại sâu bệnh để khống chế không để phát sinh thành dịch gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp. Tham mưu cho UBND xã và tư vấn cho nhân dân thực hiện các giải pháp phòng trừ sâu bệnh hợp lý, có hiệu quả.

Căn cứ vào lịch sản xuất của huyện và tình hình sinh trưởng phát triển của cây trồng, xây dựng kế hoạch tưới, tiêu nước hợp lý, để cung ứng đủ nước phục vụ sản xuất. HTX DVNN thực hiện tốt các khâu dịch vụ về nước, giống, vật tư, phân bón, thuốc BVTV để phục vụ sản xuất của nhân dân.

*HTX dịch vụ miến gạo xây dựng chuỗi liên kết và bao tiêu sản phẩm 20 ha lúa khang dân 18, tạo nguồn sản phẩm đủ tiêu chuẩn để sản xuất miến.

*Hội Nông Dân xã phối hợp với đơn vị Ngư Thôn Đại Bản tổ chức thực hiện mô hình 3 ha lúa nếp Kinh 6 của công ty ADY và 3 ha lúa DV 108 của công ty giống Quảng Bình.

3. Đối với các thôn

Các thôn thành lập tiểu ban chỉ đạo sản xuất do Đ/c trưởng thôn là trưởng tiểu ban, Đ/c bí thư chi bộ làm phó tiểu ban, Đ/c chi ủy viên và các thành viên ban công tác mặt làm ban viên, trên cơ sở kế hoạch sản xuất của xã, các thôn triển khai đến nhân dân và tổ chức thực hiện

4. Các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, Ban văn hóa đài truyền thanh xã:

Đề nghị các tổ chức chính trị xã hội và Ban văn hóa Đài truyền thanh, theo chức năng nhiệm vụ được giao phối hợp với Ban chỉ đạo sản xuất và Hợp tác xã, triển khai thực hiện phương án sản xuất vụ xuân 2024; tuyên truyền, vận động hội viên, đoàn viên tham gia sản xuất vụ xuân giành thắng lợi cả về diện tích, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.

Nơi nhận:

- Ban TV Đảng ủy; (B/C)

- Thành viên Ban chỉ đạo sản xuất

- Các ngành đoàn thể;

- BTCB – Trưởng thôn

- Ban Văn hóa Đài TT xã;

- Lưu VT.

KT CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Nguyễn Viết Liêm

Phương án sản xuất vụ Xuân 2023-2024

Đăng lúc: 06/12/2023 05:38:00 (GMT+7)

Xã Thăng Long có phương án sản xuất vụ Xuân 2023-2024

UỶ BAN NHÂN DÂN

XÃ THĂNG LONG

Số: /PA - UBND

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Thăng Long, ngày 28 tháng 11 năm 2023

PHƯƠNG ÁN

Sản xuất trồng trọt vụ Xuân năm 2024


Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SẢN XUẤT VỤ XUÂN NĂM 2023

Sản xuất trồng trọt trong năm 2023 được thực hiện trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng phát triển, các chủ trương, chính sách của tỉnh, huyện về nông nghiệp, nông thôn, nông dân được ban hành và hỗ trợ kịp thời hiệu quả; sự nỗ lực cố gắng của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và người sản xuất; đặc biệt là giá nông sản như lúa gạo tăng tạo động lực cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên bên cạnh đó sản xuất trồng trọt vẫn gặp không ít những khó khăn, thách thức như: lượng mưa ít, phân bố không đều, nắng nóng kéo dài nhất là cuối vụ Xuân đầu vụ Mùa, vừa thiếu nước, vừa thiếu điện phục vụ sản xuất, giá vật tư đầu vào vẫn ở mức cao…Song dưới sự chỉ đạo tập trung của Đảng ủy, HĐND, UBND xã, sự phối hợp tích cực của các cấp, các ngành, sự tin tưởng, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, nên sản xuất nông nghiệp đã đạt được kết quả khá toàn diện, góp phần vào tăng trưởng, phát triển kinh tế chung trên địa bàn xã.

I. Kết quả đạt được

1. Kết quả về diện tích, năng suất và sản lượng cây trồng

Giá trị sản xuất ngành trồng trọt ước đạt 146,9 tỷ đồng; Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 9.428 tấn, bằng 94,8% so với cùng kỳ, đạt 100 % so với kế hoạch năm; Bình quân lương thực đầu người 712kg/người/năm.Tổng diện tích gieo trồng trong năm là: 2.345 ha, hệ số sử dụng đất: 2,41 lần. Cụ thể: Cây lúa: diện tích 1.504 ha, năng suất bình quân 60 tạ/ha, sản lượng bình quân 9.024 tấn; Cây Ngô diện tích: 101,95 ha, năng suất 41 tạ/ha, sản lượng 404 tấn; Cây khoai lang: diện tích 63 ha, năng suất 107 tạ/ha, sản lượng 674 tấn; Cây khoai tây: diện tích 12 ha, năng suất 211 tạ/ha, sản lượng 253 tấn; Cây lạc: diện tích 89 ha, năng suất 24 tạ/ha, sản lượng 213,6 tấn; Rau màu các loại và cây khác 485 ha giá trị thu nhập khá.

Chỉ đạo mô hình ứng dụng công nghệ cao sản xuất rau, củ, quả trong nhà màng với quy mô 1000m2 tại hộ gia đình ông Lê Quang Toan thôn Ốc Thôn với tổng giá trị trên 1,5 tỷ đồng.

2. Công tác chỉ đạo thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thời vụ

Các giống chủ lực, giống chất lượng cao, giống cây trồng có lợi thế được khuyến cáo đưa vào gieo trồng đều được khảo nghiệm sản xuất để bố trí theo chân đất phù hợp; chất lượng giống đảm bảo và gắn với thị trường tiêu thụ, nhất là các cây trồng thuộc nhóm rau, hoa, dưa chuột, bí xanh, khoai tây. Đối với cây lúa cơ cấu 100% là trà xuân muộn, lúa thuần, lúa chất lượng cao chiếm trên 50% do đó đã làm tăng giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích.

Tiếp tục thực hiện tốt việc chuyển đổi cơ cấu giống, chuyển dịch cơ cấu mùa vụ trong sản xuất lúa, diện tích lúa chất lượng tăng cao so với cùng kỳ. Mỗi thôn chỉ đưa vào cơ cấu 2 - 3 loại giống, toàn xã cơ cấu 100% trà xuân muộn, bằng các loại giống lúa lai và lúa thuần có tiềm năng năng suất, chất lượng và có thời gian sinh trưởng ngắn, vì vậy cơ bản né tránh được thời tiết bất lợi và thiệt hại khi có các đối tượng sâu bệnh gây ra.

Công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền của Ban nông nghiệp và Ban giám đốc HTX tại các thời điểm đều được cụ thể hóa bằng các giải pháp hiệu quả. Hướng dẫn nhân dân các biện pháp chăm sóc, sử dụng phân bón. Dự tính, dự báo tình hình sâu bệnh, biện pháp sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh hiệu quả, được nhân dân áp dụng kịp thời, hạn chế thiệt hại do sâu bệnh gây ra.

3. Liên kết giữa doanh nghiệp, HTX và nông dân sản xuất theo chuỗi liên kết giá trị và bao tiêu sản phẩm.

Công tác liên kết sản xuất tiếp tục được quan tâm: vụ xuân và vụ Thu mùa năm 2023, HTX DVNN Thăng Long đã ký kết với các Công ty giống cây trồng Quảng Bình, Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Cúc Phương, HTX dịch vụ và sản xuất miến gạo Thăng Long, Công ty cổ phần và thực phẩm Đức Lộc… Tổ chức thực hiện liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm các loại giống lúa nếp Hương, Thiên ưu 8, SV181, …Bên cạnh đó thực hiện các mô hình giống lúa: Hương Thanh 8, Thiên Ưu 8… Với diện tích trên 5ha. Dịch vụ liên kết, bao tiêu sản phẩm và các mô hình trình diễn đã góp phần mang lại hiệu quả cao về giá trị thu nhập trên cùng một đơn vị diện tích, giảm chi phí nhân công lao động cho hộ sản xuất, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trên địa bàn xã.

4. Cơ giới hóa và các tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Việc áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất lúa tiếp tục được đẩy mạnh, khâu làm đất đạt 100% diện tích, thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp đạt trên 99% diện tích, giúp nhân dân đẩy nhanh tiến độ thu hoạch, tạo quỹ thời gian để bố trí gieo trồng những vụ tiếp theo chủ động và kịp thời vụ. Công tác dự tính dự báo hướng dẫn hộ nông dân phòng trừ đạt hiệu quả cao, lượng thuốc BVTV sử dụng ít, giảm chi phí góp phần bảo vệ môi trường. Nhiều giống cây trồng mới được gieo trồng thử nghiệm làm cơ sở để mở rộng sản xuất đại trà như giống lúa VNR 20; lúa JA2 ...

5. Các chính sách hỗ trợ sản xuất của Trung ương, của tỉnh và của huyện tiếp tục được triển khai tạo động lực hỗ trợ sản xuất phát triển.

Cùng với các cơ chế chính sách của Trung ương, tỉnh và huyện tiếp tục triển khai thực hiện, năm 2022 tỉnh đã ban hành thêm các cơ chế chính sách hỗ trợ sản xuất như hỗ trợ phát triển mô hình cây ăn quả chất lượng cao ở Thôn Mỹ Quang, hỗ trợ tích tụ, tập trung đất đai ở Ốc Thôn, đã tạo động lực góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất trên địa bàn xã đúng định hướng, mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng nông sản, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, huy động, khuyến khích các cá nhân, doanh nghiệp tham gia đầu tư vào nông nghiệp nông thôn.

II. HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Hạn chế, yếu kém

Bên cạnh những kết quả đạt được, sản xuất ngành trồng trọt năm 2023 vẫn còn những hạn chế, yếu kém do:

Một số thôn vẫn chưa cương quyết trong chỉ đạo thời vụ, vẫn để xảy ra tình trạng gieo cấy lúa sớm hơn thời vụ (Ốc Thôn, Ngọc Chẩm) công tác phòng trừ các đối tượng dịch hại tại một số thôn chưa tổ chức đồng bộ nên hiệu quả thấp.

- Hiệu quả sản xuất, lợi nhuận từ trồng trọt còn thấp, trong khi đó ngành trồng trọt gặp nhiều rủi ro do yếu tố thời tiết, sâu bệnh gây ra. Giá trị sản xuất một số loại giống cây trồng đạt thấp, thị trường một số nông sản không ổn định.

Xây dựng và phát triển các chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ còn ít, chưa tạo được nhiều chuỗi giá trị trong sản xuất, bao tiêu sản phẩm cho nông dân, số doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp vẫn còn hạn chế.

2. Nguyên nhân

a) Nguyên nhân khách quan

- Điều kiệnthời tiết, khí hậu,khó lường đã ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng trong sản xuất.

- Sản xuất trồng trọt vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình chiếm tỷ lệ lớn và thiếu sự liên kết đồng bộ theo vùng, liên vùng. Công tác tích tụ ruộng đất và chuyển đổi những diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang cây trồng khác chưa được quan tâm; hạ tầng phục vụ sản xuất nhiều nơi vẫn chưa được đầu tư đồng bộ.

b) Nguyên nhân chủ quan

- Công tác chỉ đạo, điều hành ở một số thời điểm còn chưa tốt, còn chậm so với tình hình thực tế.

Bên cạnh những kết quả đạt được, sản xuất vụ xuân năm 2023 vẫn còn một số khó khăn, hạn chế, yếu kém đó là:

Công tác chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả và các loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp sang sản xuất các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao chưa thật sự bền vững, nhân dân ở một số thôn chưa thực hiện đúng hướng dẫn lịch thời vụ còn gieo cấy sớm vụ chiêm xuân, giao cấy muộn ở vụ mùa.

Một số thời điểm trọng tâm cần tập trung xử lý các đối tượng sâu bệnh để bảo vệ cây trồng được Ban nông nghiệp khuyến cáo, nhưng nhiều hộ nông dân còn chưa quan tâm, để sâu bệnh gây hại. Hệ thống kênh tưới, kênh tiêu, kênh chân rết của các thôn xuống cấp, làm ảnh hưởng đến công tác điều hành nước tưới dẫn đến trong vụ nhiều diện tích còn bị hạn cục bộ.

Phần thứ hai

MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP SẢN XUẤT VỤ XUÂN 2024

I. Dự báo một số yếu tố tác động đến sản xuất

1. Tình hình thời tiết khí hậu, thủy văn

Theo nhận định của Trung tâm dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia trong những tháng cuối năm 2023 đến tháng 3/2024 hiện tượng El Nino( pha nóng) vẫn tiếp tục duy trì với xác suất khoảng 85-95%, cường độ có xu hướng giảm dần.

Nhiệt độ và không khí lạnh: Tháng 12/2023 phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm( TBNN) khoảng 0,50C- 1,50C; Thời kỳ đầu mùa đông 2023- 2024 không khí lạnh có khả năng hoạt động yếu và rét đậm, rét hại có khả năng hoạt động muộn, Tháng 01-03/2024 số ngày rét đậm, rét hại có khả năng ít hơn trung bình nhiều năm. Các đợt rét đậm, rét hại có xu hướng không kéo dài.

Lượng mưa, dòng chảy: Tổng lượng mưa khu vực Bắc Trung Bộ trong tháng 12/2023 phổ biến cao hơn từ 20-40% so với TBNN cùng thời kỳ. Tháng 01-02/2024 tổng lượng mưa tại khu vực Bắc Trung Bộ phổ biến cao hơn so với TBNN khoảng từ 5-10mm. Tháng 3/2024 tổng lượng mưa thấp hơn từ 5-10mm só với TBNN cùng thời kỳ.

Như vậy mùa đông 2023-2024 không khí lạnh có khả năng hoạt động yếu, rét đậm, rét hại có khả năng hoạt động muộn hơn TBNN, nhiệt độ cao hơn TBNN từ 0,50C- 1,50C, nguồn nước phục vụ sản xuất cơ bản đầy đủ.

2. Nhận định thuận lợi, khó khăn.

* Thuận lợi

Sản xuất trồng trọt tiếp tục nhận được sự quan tâm của cấp ủy Đảng, Chính quyền các cấp, nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất tiếp tục được ban hành, tạo động lực cho phát triển.

Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, đặc biệt là ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất, hạ tầng sản xuất tiếp tục được hoàn thiện giúp cho sản xuất đạt hiệu quả cao hơn. Công tác quản lý giống, phân bón, thuốc BVTV và đảm bảo an toàn thực phẩm của các cấp, các ngành ngày càng đi vào nề nếp.

Tín hiệu thị trường nông sản trên thế giới và VIệt Nam có xu hướng tăng nhu cầu về số lượng, chủng loại và giá nông sản, tạo cơ hội cho sản xuất phát triển nhất là sản xuất hàng hóa quy mô lớn, chất lượng cao.

* Khó khăn

Tình hình an ninh chính trị thế giới diễn biến khó lường; Thị trường giao động khó dự báo. Thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu, sâu bệnh phát sinh gây hại trái quy luật là nguy cơ gây thiệt hại lớn cho sản xuất trồng trọt.

Diện tích nhỏ lẻ, thiếu lao động có chuyên môn cao vẫn là những yếu tố gây khó khăn cho sản xuất trồng trọt.

Giá vật tư đầu vào vẫn còn ở mức cao, liên kết theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ còn ít. Thị trường giống, vật tư nông nghiệp và nông sản biến động bất thường.

II. Mục tiêu sản xuất vụ xuân 2024

Trên cơ sở kế hoạch của huyện, UBND xã giao chỉ tiêu theo điều kiện cụ thể đến từng thôn xây dựng các mục tiêu sản xuất trên cơ sở hoàn thành trên mức kế hoạch huyện giao, giao chỉ tiêu cụ thể từng loại cây trồng đến từng thôn, nhất là chỉ tiêu về diện tích, sản lượng, giá trị và chất lượng, xây dựng và triển khai các giải pháp thực hiện một cách phù hợp, ứng phó hiệu quả với các tình huống bất thường trong sản xuất như thiên tai, dịch bệnh, thị trường... tập trung công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện đảm bảo hoàn thành vượt mức các mục tiêu đề ra.

Tổng diện tích gieo trồng 1.100,3 ha: cây lúa: Diện tích 743 ha. Trong đó tổ chức liên kết sản xuất bao tiêu sản phẩm 100 ha, quy hoạch mô hình trình diễn 6 ha, gồm các giống lúa: như Nếp Hương, J02, Khang Dân 18, LP5, năng suất bình quân 70 tạ/ha, sản lượng 5.265,4 tấn; Cây ngô 60,0 ha, năng suất bình quân 50,0 tạ/ha, sản lượng 125 tấn; Cây khoai lang: Diện tích: 25,0ha, năng suất 90 tạ/ha, sản lượng 270 tấn; Cây lạc gieo trồng 53 ha, Cây Khoai tây: Diện tích: 10,0 ha, năng suất 170 tạ/ha, sản lượng 85 tấn; Cây ớt 13,0 ha; Cây mía diện tích 100 ha, Rau màu các loại 89,3 ha

Tiếp tục chỉ đạo tăng tỷ lệ diện tích gieo cây trà lúa xuân muộn và mùa sớm để hạn chế ảnh hưởng của thời tiết, sâu bệnh và tăng quỹ đất để mở rộng sản xuất vụ đông năm sau. Chuyển đổi một số diện tích đất lúa sản xuất kém hiệu quả, khó khăn về nước tưới sang cây trồng khác có giá trị kinh tế cao.

Đối với rau màu: Tiếp tục duy trì và nhân rộng mô hình trồng rau công nghệ cao, căn cứ thời vụ các loại cây trồng cần tranh thủ thời tiết thuận lợi để gieo trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho các loại cây trồng, chủ động mời gọi các công ty, doanh nghiệp để tổ chức liên kết sản xuất bao tiêu sản phẩm cho các loại cây trồng.

Đối với cây ăn quả: Tập trung cải tạo chuyển đổi diện tích vườn đồi để chuyển sang trồng các loại cây như: Cam, bưởi, ổi, mít... tại các thôn Mỹ Quang, Vạn Thành... tạo tiền đề hình thành vùng chuyên sản xuất cây ăn quả tập trung nâng cao giá trị thu nhập vườn đồi trên đơn vị diện tích.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo điều hành sản xuất kịp thời, hiệu quả

Cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị, Ban nông nghiệp xã, các Cấp ủy, chi bộ Nông nghiệp cần quán triệt về vai trò, ý nghĩa và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả trong công tác chỉ đạo. Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền đến cán bộ Đảng viên và nhân dân. Xác định thực hiện thắng lợi kế hoạch sản xuất ngành trồng trọt năm 2024 là nhiệm vụ trọng tâm trong sản xuất nông nghiệp

Các thôn sớm chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất vụ Chiêm xuân 2024 trên cơ sở phương án sản xuất của UBND xã theo hướng tái cơ cấu ngành trồng trọt, tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng; khuyến khích tích tụ ruộng đất để sản xuất quy mô lớn, phối hợp với HTX đầu tư liên doanh, liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm. Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn nông dân gieo trồng đúng cơ cấu, đúng lịch thời vụ để giảm thiểu rủi ro do thời tiết, dịch bệnh gây ra.

2. Bố trí cơ cấu giống cây trồng và thời vụ hợp lý

Vụ Xuân 2024 tiết “Đại Hàn” vào ngày 21/01/2024 (tức 11/12 Âm lịch), đây là giai đoạn dự báo có tần suất rét đậm cao nhất trong năm; tiết “Lập Xuân” vào ngày 04/02/2024 (tức ngày 25/12 Âm lịch), Cốc vũ vào ngày 20/4/2024 dương lịch (ngày 12/3 âm lịch). Theo Trung tâm dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, vụ Xuân năm 2024 dự kiến sẽ là vụ sản xuất có nền nhiệt độ trung bình cao hơn TBNN từ 0,50C-1,50C và ẩm hơn TBNN cùng thời kỳ.

Quan điểm bố trí thời vụ và cơ cấu lúa là: Tập trung 100% sản xuất vụ xuân muộn, ưu tiên sử dụng giống ngắn ngày chất lượng cao, giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt, gạo ngon, hạt dài.

Lấy mốc thời điểm cây trồng trỗ bông từ 25/4-05/5/2024 (trong đó lúa trỗ tập trung từ 25/4 đến 30/4), để làm căn cứ tính thời điểm gieo mạ phù hợp cho từng giống và từng trà lúa của địa phương. Bố trí gọn từng trà mỗi cánh đồng chỉ sử dụng từ 2-3 loại giống, gieo tập trung trong khoảng 2 - 3 ngày.

Trên cơ sở đó, UBND xã khuyến cáo cơ cấu trà, chân đất và bộ giống phục vụ sản xuất như sau:

* Cây Lúa:

+ Đối với diện tích đất thường xuyên bị ngập lụt trong vụ thu mùa hàng năm, đất làm vụ đông tại các thôn trên địa bàn xã. Trong vụ xuân phải bố trí gieo cấy giống lúa có thời gian sinh trưởng < 125 ngày như: TBR 97, Thiên ưu 8, KD, Bắc thơm 7- gieo mạ từ 10 - 15/01/2024 để có thời gian và quỹ đất sản xuất vụ Thu mùa 2024 sớm tránh mưa lũ cuối vụ.

+ Trên chân đất sâu trũng, Lựa chọn các giống: Thái xuyên 111, Hương ưu 98, Phú ưu 978, VT 404, Phúc Thái 168…Gieo mạ từ 10 - 15/01/2024

+ Trên chân đất vàn và vàn thấp, lựa chọn các giống: Hương Bình, N97, N98, TBR97, KD đột biến, KD 18, ĐT 80, Thiên ưu 8 cácgiống Lúa nếp thơm chất lượng cao…gieo mạ từ 15 - 20/01/2024

Ngoài các giống chủ lực,các Hợp tác xãDVNN phối hợp với các doanh nghiệp tiếp tục xây dựng mô hình khảo nghiệm, sản xuất thử các giống lúa có triển vọng để đánh giá làm cơ sở mở rộng sản xuất cho các vụ tiếp theo: Thụy hương 308, HG 12, TBR1, TBR87, ADI 68, Hana 7, SV181...

* Cây ngô:Lựa chọn các giống có năng suất, chấtlượng cao, kháng sâu bệnh, chịu lạnh, chịu hạn. Sử dụng các loại giống như: VS36,CP111, PSC747, PSC02, LVN10,... thời vụ trồng 05 - 15/02.

* Cây lạc:Các giống chủ yếu là L14, L18 L23, L26,TB25.Thời vụ gieo từ 01 - 10/2, thu hoạch trước 10/6, cần bố trí trên chân đất có thành phân cơ giới nhẹ (chuyên màu). Đơn vị Mỹ Quang và Vạn Thành có diện tích trồng mía cần chỉ đạo cho nông dân trồng xen để tăng thu nhập và cải tạo đất.

* Khoai lang:Bố trí ở những diện tích trồng cây kháccho năng suất thấp. Cần chỉ đạo trồng tăng diện tích khoai lang tím Nhật Bản,Hoàng Long để tăng sản lượng và giá trị sản xuất.

* Rau màu: Khuyến khích các hộ nông dân trồng các loại rau có giá trị kinhtế cao như: su hào, bắp cải, ớt xuất khẩu, bí xanh, cà chua đáp ứng đủ nhu cầu tiêudùng tại chỗ. Đặc biệt tăng diện tích trồng rau an toàn ở hộ anh lê Quang Toan Ốc Thôn và các hộ ở Ngư Thôn Đại Bản, tiếp tục chỉ đạo phát triển vùng rau an toàn theo chính sách của tỉnh.

(Cơ cấu và thời vụ các giống cây trồng chủ lực có lịch gieo trồng kèm theo)

3. Tập trung thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật thâm canh, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất.

Sử dụng giống đúng tiêu chuẩn, chất lượng; che phủ ni lông 100% diện tích mạ để phòng chống rét, tăng cường sử dụng mạ khay, máy cấy và ứng dụng cơ giới hoá các khâu trong sản xuất;

Tăng cường cày ải trên diện tích không làm vụ đông, khuyến cáo tập trung sử dụng phân bón hữu cơ, xây dựng phương án điều tiết nước, quản lý, chỉ đạo thời vụ bằng thuỷ lợi.

Tập trung chỉ đạo và tổ chức xây dựng, thiết lập, cấp và quản lý mã số các vùng trồng (các sản phẩm nội địa và sản phẩm nông sản để xuất khẩu), từng bước ứng dụng công nghệ số vào sản xuất

Tiếp tục xây dựng mô hình và mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như sản xuất rau an toàn, cây ăn quả, hoa cây cảnh, sản xuất hữu cơ (Lúa – cá, lúa – rươi, rau củ quả trong nhà màng, nhà kính...) để nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất.

Xây dựng thương hiệu các sản phẩm trồng trọt gắn với tìm kiếm, phát triển thị trường tiêu thụ, nhất là những sản phẩm có thế mạnh của địa phương, tăng cường khai thác ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường.

Tiếp tục phối hợp với các doanh nghiệp xây dựng mô hình khảo nghiệm, sản xuất thử các giống cây trồng, biện pháp kỹ thuật canh tác mới để đánh giá làm cơ sở để mở rộng sản xuất cho các vụ tiếp theo.

4. Phòng trừ tốt các đối tượng sâu bệnh gây hại cây trồng

Vụ Xuân là vụ có nhiều đối tượng sâu bệnh phát sinh và gây hại. Việc phòng trừ sâu bệnh trước hết phải làm tốt công tác dự tính dự báo, phát hiện sớm và khoanh vùng phòng trừ kịp thời, không để lây lan thành dịch, UBND xã giao HTX VDNN theo dõi, dự tính, dự báo các đối tượng sâu bệnh và hướng dẫn các biện pháp phòng trừ cụ thể tránh để lan ra diện rộng.

5. Tổ chức tốt việc cung ứng, dịch vụ phục vụ sản xuất

Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp phối hợp chặt chẽ với các thôn và các hộ kinh doanh vật tư nông nghiệp có kế hoạch cung ứng đủ giống, vật tư, phân bón cho nông dân đảm bảo chất lượng, đủ số lượng, đúng chủng loại, kịp thời vụ, giá cả hợp lý và tạo điều kiện cho nông dân sản xuất đạt hiệu quả cao.

HTX DVNN thường xuyên phối hợp với công ty TNHH MTV Sông chu chi nhánh Nông Cống kiểm tra, phát hiện hư hỏng. Tập trung khẩn trương sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi bị hư hỏng do mưa lũ gây ra, đặc biệt là các hồ chứa để đáp ứng kịp thời cho sản xuất; trước mắt, phối hợp với các địa phương thực hiện tốt công tác ra quân làm thủy lợi mùa khô; nạo vét kênh mương nhằm phát huy tốt năng lực tưới của các công trình. Xây dựng và triển khai thực hiện phương án tưới, tiêu phù hợp, hiệu quả và ứng phó với biến đổi khí hậu.

6. Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với sản xuất

Tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trong kinh doanh, buôn bán giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật trong kinh doanh, buôn bán giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.

Giám sát chặt chẽ nội dung quảng bá, quảng cáo, tập huấn kỹ thuật về phân bón, thuốc BVTV đối với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn xã.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Ban chỉ đạo sản xuất

Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các thôn xây dựng, triển khai Phương án sản xuất trồng trọt vụ Xuân năm 2024; theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, dịch bệnh; Chỉ đạo thực hiện và phát triển các mô hình mới trong sản xuất để làm cơ sở nhân ra diện rộng cho các vụ sau. Tham mưu đề xuất các cơ chế chính sách hỗ trợ sản xuất năm 2024 báo cáo UBND xã xem xét, quyết định.

Thành lập Ban chỉ đạo sản xuất do đ/c Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban, đ/c Phó Chủ tịch làm phó ban trực, đ/c Giám đốc HTX phó ban; Cán bộ công chức UBND xã, mời Ban chấp hành đảng ủy và các ngành đoàn thể cùng tham gia.

Ban Nông nghiệp xây dựng và triển khai kế hoạch sản xuất trồng trọt vụ Xuân, phù hợp với điều kiện của địa phương; tuyên truyền, phổ biến đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong đó quan tâm đến công tác quy hoạch, cơ cấu các loại giống trên từng xứ đồng, đảm bảo mỗi xứ đồng chỉ gieo cấy từ 2 – 3 loại giống tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chỉ đạo thời vụ, chăm sóc và thu hoạch, theo dõi và chỉ đạo chặt chẽ tình hình sử dụng cơ cấu giống và lịch thời vụ. Khuyến cáo và vận động các hộ kinh doanh giống và vật tư nông nghiệp trên địa bàn thực hiện tốt cơ cấu sản xuất năm 2024.

2. Hợp tác xã

* Hợp tác xã Nông nghiệp

Thực hiện tốt công tác hướng dẫn cơ cấu giống, thời vụ, kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh; theo dõi các mô hình liên kết. Lựa chọn và thực hiện có hiệu quả công tác trình diễn, khuyến khích các loại giống mới, các mô hình mới chủ động đề đề xuất đánh giá các mô hình làm cơ sở trong việc tham mưu cơ cấu giống trong những năm tiếp theo.

Xây dựng kế hoach tập huấn chuyển giao tiến bộ KHKT. chỉ đạo thực hiện phương án phòng trừ sâu bệnh vụ xuân; thực hiện tốt công tác dự tính, dự báo thời điểm các loại sâu bệnh phát sinh, hướng dẫn xử lý thuốc kịp thời, hiệu quả và an toàn; khảo nghiệm và lựa chọn bộ thuốc đặc trị đối với từng loại sâu bệnh để khống chế không để phát sinh thành dịch gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp. Tham mưu cho UBND xã và tư vấn cho nhân dân thực hiện các giải pháp phòng trừ sâu bệnh hợp lý, có hiệu quả.

Căn cứ vào lịch sản xuất của huyện và tình hình sinh trưởng phát triển của cây trồng, xây dựng kế hoạch tưới, tiêu nước hợp lý, để cung ứng đủ nước phục vụ sản xuất. HTX DVNN thực hiện tốt các khâu dịch vụ về nước, giống, vật tư, phân bón, thuốc BVTV để phục vụ sản xuất của nhân dân.

*HTX dịch vụ miến gạo xây dựng chuỗi liên kết và bao tiêu sản phẩm 20 ha lúa khang dân 18, tạo nguồn sản phẩm đủ tiêu chuẩn để sản xuất miến.

*Hội Nông Dân xã phối hợp với đơn vị Ngư Thôn Đại Bản tổ chức thực hiện mô hình 3 ha lúa nếp Kinh 6 của công ty ADY và 3 ha lúa DV 108 của công ty giống Quảng Bình.

3. Đối với các thôn

Các thôn thành lập tiểu ban chỉ đạo sản xuất do Đ/c trưởng thôn là trưởng tiểu ban, Đ/c bí thư chi bộ làm phó tiểu ban, Đ/c chi ủy viên và các thành viên ban công tác mặt làm ban viên, trên cơ sở kế hoạch sản xuất của xã, các thôn triển khai đến nhân dân và tổ chức thực hiện

4. Các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội, Ban văn hóa đài truyền thanh xã:

Đề nghị các tổ chức chính trị xã hội và Ban văn hóa Đài truyền thanh, theo chức năng nhiệm vụ được giao phối hợp với Ban chỉ đạo sản xuất và Hợp tác xã, triển khai thực hiện phương án sản xuất vụ xuân 2024; tuyên truyền, vận động hội viên, đoàn viên tham gia sản xuất vụ xuân giành thắng lợi cả về diện tích, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.

Nơi nhận:

- Ban TV Đảng ủy; (B/C)

- Thành viên Ban chỉ đạo sản xuất

- Các ngành đoàn thể;

- BTCB – Trưởng thôn

- Ban Văn hóa Đài TT xã;

- Lưu VT.

KT CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Nguyễn Viết Liêm

Người tốt, việc tốt